Lịch Sử Giáo Hội
Gia Đình của Joseph và Emma Hale Smith


"Gia Đình của Joseph và Emma Hale Smith,“ Các Đề Tài về Lịch Sử Giáo Hội

"Gia Đình của Joseph và Emma Hale Smith"

Gia Đình của Joseph và Emma Hale Smith

Gia đình Joseph và Emma Smith đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn và bi kịch, bao gồm sự ngược đãi về chính trị và tôn giáo, cảnh không nhà cửa, cái chết đột ngột của bảy người con, và cả cái chết tuẫn đạo của chính Joseph. Trong những lúc khó khăn, các thành viên trong gia đình tìm đến nhau để có sức mạnh. Chẳn hạn, trong thời gian bị giam giữ tại Ngục Thất Liberty, Joseph đã viết thư cho Emma và khích lệ bà ngay cả khi ông đang đau buồn vì cảnh chia ly của họ. Ông cũng dặn dò bà về các con của họ: "Hãy nói với chúng là cha của chúng yêu thương chúng với một tình yêu trọn vẹn, và đang làm mọi điều có thể để thoát khỏi đám người hung hãn để về với chúng." Trong những năm cuối đời, những người con còn sống của gia đình Smith vẫn gần gũi và hỗ trợ lẫn nhau trong công việc phục vụ trong giáo hội. Họ bảo vệ thanh danh của mẹ mình và chăm sóc bà cho đến khi bà qua đời vào năm 1879.

Sau khi Joseph và Emma kết hôn vào năm 1827, gia đình họ đã sống một thời gian ngắn ở Manchester với gia đình của Joseph, rồi chuyển đến Harmony, Pennsylvania. Ba đứa con đầu lòng của họ đã không sống sót quá một ngày, và mãi đến khi Joseph và Emma chuyển đến Ohio, họ mới nhận nuôi hai đứa con sinh đôi và bắt đầu nuôi dạy con cái của mình. Ở Ohio, Joseph vừa chu toàn cuộc sống gia đình vừa đảm trách công việc hành chính quan trọng khi ông lãnh đạo một giáo hội đang phát triển nhanh chóng với các chi nhánh nhỏ trên khắp Hoa Kỳ và một cộng đồng Các Thánh Hữu Ngày Sau đang thịnh vượng ở Missouri. Một cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn quốc, sự thất bại của công ty ngân hàng Kirtland Safety Society Company, và các mối đe dọa gia tăng đối với sự an toàn của Joseph đã buộc gia đình ông phải chuyển từ Ohio đến Missouri vào đầu năm 1838, nhưng sự chống đối Các Thánh Hữu đang ngày càng lan rộng ở Missouri trong suốt năm sau đó cho đến khi đám đông khủng bố gây bạo lực đã chia cách gia đình họ. Emma tìm được nơi trú ẩn cùng với Các Thánh Hữu khác ở Illinois trong khi Joseph bị giam giữ ở Missouri. Đầu năm 1839, Joseph đoàn tụ với gia đình sau khi được phép ra tù một lần nữa.

Ở Illinois, gia đình họ cùng tham gia vào việc phát triển thành phố Nauvoo, và cả Joseph lẫn Emma đều lãnh đạo các nhóm dân sự và tôn giáo trong vài năm kế tiếp. Trong khi ở Nauvoo, Joseph đã thực hành tục đa hôn khi ông được hướng dẫn bởi sự mặc khải. Ông đã kết hôn với nhiều phụ nữ khác, mặc dù không có bằng chứng đáng tin cậy nào là Joseph đã có con với nhiều người vợ của mình. Tục đa hôn ở Nauvoo được thực hành một cách bí mật, và Joseph đã không thừa nhận hoặc sống công khai với bất cứ người vợ nào trong số những người vợ đa thê của ông. Do đó, con cái của gia đình Smith đã không trực tiếp chứng kiến bất cứ việc thực hành tục đa hôn nào. Cụ thể là Joseph III, Alexander và David tin rằng giáo lý này không bắt nguồn từ cha của họ.

Sau khi Joseph qua đời vào năm 1844, Emma quản lý tài sản cá nhân của Joseph, bao gồm một số hiện vật quý giá. Cả hai tài liệu gốc được tạo ra từ bản dịch Kinh Thánh của Joseph Smith (kể cả sách Môi Se trong Trân Châu Vô Giá) lẫn giấy cói Ai Cập liên quan đến sách Áp Ra Ham vẫn do Emma sở hữu. Emma ở lại Nauvoo với con cái trong khi hầu hết các tín hữu Giáo Hội di cư đến vùng Great Basin. Người chồng thứ hai của bà, Lewis Bidamon, đã cứu được bản thảo gốc của Sách Mặc Môn từ nơi cất giữ trong viên đá góc nhà của Nhà Nauvoo. Khi những người trong gia đình Smith đảm nhận vai trò lãnh đạo trong Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô Được Tái Tổ Chức, Giáo Hội Tái Tổ Chức (sau này là Community of Christ tạm dịch là Cộng Đồng của Đấng Ky Tô) đã bảo tồn nhiều hiện vật này cho đến ngày nay. Gia đình Smith ủng hộ công việc và tầm nhìn của Joseph và để lại không chỉ một di sản không thể phai mờ cho con cháu của họ mà còn là một bằng chứng vô giá về những trải nghiệm ban đầu của Thánh Hữu Ngày Sau.

Joseph Smith Jr. (năm 1805–1844)

(Xin xem "Joseph Smith and His Papers: An Introduction," josephsmithpapers.org.)

Emma Hale Smith Bidamon (năm 1804–1879)

(Xin xem "Emma Hale Smith," Các Đề Tài Lịch Sử Giáo Hội.)

Con Trai Không Được Đặt Tên (năm 1828)

Emma sinh một người con trai vào ngày 15 tháng Sáu năm 1828, nhưng đứa trẻ đã qua đời ngay trong ngày hôm đó. Trên một bia mộ trong khu đất của gia đình Hale ở Harmony, Pennsylvania, có khắc dòng chữ: "Để Tưởng Nhớ Người Con Trai Sơ Sinh của Joseph Và Emma Smith, ngày 15 tháng Sáu năm 1828." Trong một cuốn Kinh Thánh của gia đình, một người họ hàng đã viết tên "Alvin" để xác định đứa bé này, nhưng sau đó Emma xác nhận rằng đứa bé chưa bao giờ được đặt tên.

Cặp Sinh Đôi Không Được Đặt Tên (năm 1831)

Năm 1831, Emma sinh đôi, một gái và một trai, nhưng cả hai đứa trẻ đều chết khi chào đời. Ngày hôm sau, người bạn của gia đình là Julia Clapp Murdock cũng sinh đôi, nhưng cô đã chết sáu giờ sau khi sinh con. Chồng của Julia, John Murdock, sau khi vợ qua đời và phải một mình chăm sóc năm đứa con, đã giao hai đứa con sinh đôi cho Emma và Joseph nhận làm con nuôi. Emma dường như chưa bao giờ đặt tên cho hai đứa con sinh đôi đã qua đời của mình. Khi mẹ chồng của bà, Lucy Mack Smith, hỏi thêm thông tin để ghi vào lịch sử gia đình, Emma đã bỏ qua đứa con đầu lòng của mình và hai đứa con sinh đôi. Trong một cuộc phỏng vấn với người con trai thành niên là Joseph Smith III, Emma giải thích rằng ba người con này của bà đã qua đời khi chưa kịp đặt tên. Mặc dù một cuốn Kinh Thánh của gia đình xác định hai đứa bé sinh đôi là "Louisa" và "Thadeus", những cái tên này được một người thân sau này ghi lại mà không hề đề cập đến nguồn gốc của chúng.

Joseph Murdock Smith (năm 1831–1832)

Joseph và Emma đã nhận nuôi Joseph Murdock Smith và em gái sinh đôi là Julia, từ người bạn John Murdock của họ ngay sau khi mẹ của hai đứa bé qua đời. Bé Joseph mắc bệnh sởi vào đầu năm 1832, và trong khi cậu bé đang được chăm sóc trên chiếc giường nhỏ, một đám đông đã tấn công, lôi người cha nuôi Joseph ra khỏi phòng ngủ vào đêm lạnh giá và đánh đập ông đến bất tỉnh. Chưa đầy một tuổi, bé Joseph Murdock Smith qua đời vài ngày sau đó. Joseph Smith cho rằng cái chết của con trai nuôi của mình là do bị lạnh đêm hôm đó, phù hợp với sự hiểu biết y học vào thời điểm đó.

Julia Murdock Smith Dixon Middleton (năm 1831–1880)

Khi cha ruột của Julia, John Murdock, cho cô và anh trai sinh đôi của cô làm con nuôi, Emma Smith yêu cầu Murdock không nói cho các con biết về việc nhận nuôi chúng để chúng có thể cảm thấy hoàn toàn thuộc về gia đình Smith. Tuy nhiên, Julia đã biết được sự thật khi mới năm tuổi từ một người hàng xóm "đầy thù hằn". Bà kết hôn với Elisha Dixon vào khoảng trước năm 1850, và sau khi ông qua đời vào năm 1853, bà chuyển đến Nauvoo. Ba năm sau, Julia cải đạo sang Công Giáo sau khi kết hôn với một người Công Giáo tên là John Middleton. Bà không có con và sống gần Nauvoo vào lúc bà qua đời vào năm 1880.

bức ảnh chân dung của Julia Murdock Smith

Ảnh Julia Murdock Smith Dixon Middleton.

Do Nhã Ý của Bộ Phận Lưu Trữ của Giáo Hội Community of Christ

Joseph Smith III (năm 1832–1914)

Joseph Smith III sinh ngày 6 tháng Mười Một năm 1832, không lâu sau khi cha ông, Joseph Smith Jr., trở về Kirtland sau chuyến thăm thành phố New York và Boston. Sáu năm sau, "Thiếu niên Joseph" chứng kiến cảnh cha mình bị bắt giữ ở Missouri, vào thời điểm đó một lính canh đã đẩy anh ta xa khỏi cha mình, đe dọa sẽ "đâm chết [anh ta]" bằng kiếm. Khi còn nhỏ, ông cùng mẹ đến thăm Ngục Thất Liberty và ngủ lại đêm ở đó với cha mình và các tù nhân khác. Ông đã dành những năm tháng cuối của thời thơ ấu ở Nauvoo và được cha mình làm phép báp têm vào tháng Mười Một năm 1843.

ảnh chân dung của Joseph Smith III

Hình ảnh ban đầu của Joseph Smith III.

Trong 10 năm sau cái chết của cha mình vào năm 1844, Joseph III vẫn giữ khoảng cách với một số giáo hội tự nhận là kế thừa di sản của Tiên tri Joseph Smith. Trong suốt cuộc đời của Joseph Smith Jr., ông đã ban cho Joseph III một số phước lành, một trong số đó sau này được cho là bao gồm lời hứa chủ tọa Giáo Hội. Năm 1856, hai người đàn ông đại diện cho phong trào Tái Tổ Chức đã đến gặp ông với một điều mặc khải bằng văn bản. Tài liệu này cho biết Joseph Smith III là người kế vị cha mình theo dòng dõi, nhưng Joseph đã bác bỏ lời mời lãnh đạo một giáo hội được tái tổ chức. Các phước lành của cha ông và một kinh nghiệm thuộc linh cuối cùng đã thuyết phục ông tham gia phong trào Tái Tổ Chức và chủ tọa Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô Được Tái Tổ Chức (được biết đến ngày nay là Community of Christ, dịch là Cộng Đồng của Đấng Ky Tô).

Trong 54 năm tiếp theo, Joseph III đã dẫn dắt Giáo Hội Tái Tổ Chức với tư cách là tiên tri-chủ tịch và xây dựng các giáo đoàn gồm Các Thánh Hữu đầu tiên mà chưa di cư về miền Tây. Được biết đến với sự chính trực và nhạy bén chính trị, ông đã tìm cách thực hiện tầm nhìn tôn giáo của cha mình và phát triển một tổ chức giáo hội bền vững, trở thành tổ chức lớn thứ hai trong số các tổ chức tự nhận Joseph Smith là người sáng lập. Mặc dù duy trì mối quan hệ thân thiện với người anh họ là Chủ Tịch của Giáo Hội ở Utah, Joseph F. Smith, Joseph III phủ nhận việc cha ông đã thực hành tục đa hôn và không đồng ý với các hoạt động truyền giáo của Giáo Hội cũng như tuyên bố chủ quyền đối với các địa điểm lịch sử. Ông đã đưa hai người em trai của mình là Alexander và David vào giới lãnh đạo cấp cao và bảo đảm con đường kế vị của con trai mình với tư cách là chủ tịch của giáo hội. Ông đã kết hôn ba lần và góa vợ hai lần, lần đầu tiên với Emmeline Griswold vào năm 1856, sau đó với Bertha Madison vào năm 1869, và cuối cùng với Ada Rachel Clark vào năm 1898. Joseph III là cha của 17 người con. Ông qua đời vì một cơn đau tim đột ngột vào năm 1914.

Frederick Granger Williams Smith (năm 1836–1862)

Chỉ còn lại rất ít tài liệu về Frederick Granger Williams Smith, người con ruột thứ năm của Joseph và Emma, sinh ngày 20 tháng Sáu năm 1836 ở Kirtland và được đặt theo tên của Frederick G. Williams, một trong hai cố vấn của Joseph Smith. Frederick đã dành phần lớn cuộc đời của mình ở Nauvoo làm nghề nông và làm thương nhân, kết hôn với Anna Marie Jones vào năm 1857, và qua đời (có thể vì bệnh lao) vào năm 1862.

bức ảnh chân dung của Frederick Granger Williams Smith

Ảnh Frederick Granger Williams Smith.

Do nhã ý của Bộ Phận Lưu Trữ của Community of Christ

Alexander Hale Smith (năm 1838–1909)

Được đặt theo tên của người biện hộ cho Các Thánh Hữu và luật gia đáng tin cậy Alexander Doniphan, Alexander Hale Smith sinh ra trong thời kỳ mà sự ngược đãi đang gia tăng ở Missouri. Emma cõng Alexander tám tháng tuổi băng qua dòng sông Mississippi đóng băng vào năm 1839 để thoát khỏi "lệnh tiêu diệt" khét tiếng của thống đốc bang Missouri là Lilburn W. Boggs. Cậu bé lớn lên với niềm tin tuyệt đối nơi Sách Mặc Môn và giáo vụ tiên tri của cha mình. Khi trưởng thành, Alexander theo anh trai Joseph III tham gia phong trào Tái Tổ Chức và phục vụ trong các vị trí nổi bật trong Giáo Hội Tái Tổ Chức.

bức ảnh chân dung của Alexander Hale Smith

Ảnh Alexander Hale Smith.

Alexander kết hôn với Elizabeth Agnes Kendall vào năm 1861, họ có chín người con. Ngay sau khi đứa con đầu lòng của họ là Frederick Alexander ra đời, thì anh trai của Alexander là Frederick Granger Williams Smith qua đời, khiến Alexander lo lắng về số phận vĩnh cửu của anh trai mình. Theo thông tin cho biết, ông đã có kinh nghiệm thuộc linh đầu tiên của mình ngay sau đó, một lời thì thầm của Đức Thánh Linh mà đã xoa dịu tâm hồn ông ấy. Ông cảm thấy yên tâm rằng "Tình trạng của Frederick rất dễ chịu."

Alexander đã phục vụ truyền giáo nhiều lần cho Giáo Hội Tái Tổ Chức một vài lần đến thăm Utah và gặp gỡ những người họ hàng thuộc Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô. Mặc dù đôi khi có những cuộc tranh luận sôi nổi về sự khác biệt tôn giáo, ông vẫn duy trì một thái độ cởi mở đối với những người anh họ của mình bên ngoài phong trào Tái Tổ Chức. Ông đã phục vụ với tư cách là cố vấn cho anh trai của mình là Joseph III, trong Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn của giáo hội RLDS và được sắc phong làm chủ tịch Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ của giáo hội RLDS vào năm 1890. Ông qua đời năm 1909 ở Nauvoo trong khi phục vụ với tư cách là tộc trưởng.

Don Carlos Smith (1840–1841)

Don Carlos Smith sinh ngày 13 tháng Sáu năm 1840, ở Nauvoo và chỉ sống được 14 tháng, qua đời vì bệnh sốt rét chỉ vài ngày sau cái chết của người chú cùng tên, Don Carlos Smith, em trai của Joseph Smith. Alexander Smith, một người con trai khác của Joseph và Emma Smith, kể lại rằng không lâu trước khi mẹ ông, Emma, qua đời vào năm 1879, bà đã trông thấy một giấc mơ trong đó Joseph Smith dẫn bà đi qua một dinh thự trên thiên đàng đến một nhà trẻ, nơi bà ôm ấp cậu bé Don Carlos. Khi bà hỏi Joseph về những đứa con khác đã qua đời của họ, Joseph hứa rằng sau cuộc sống trần thế của bà, bà sẽ được nuôi dạy tất cả những đứa con của bà mà chưa sống đến tuổi trưởng thành.

Con Trai Không Được Đặt Tên (năm 1842)

Theo thông tin được biết, Emma đã sinh một đứa bé trai vào ngày 6 tháng Hai năm 1842 tại Nauvoo, và chôn cất đứa bé cùng ngày.

David Hyrum Smith (1844–1904)

Emma mang thai David Hyrum Smith khi Joseph Smith qua đời vào năm 1844. Được biết đến với tài thơ phú, ca hát và nghệ thuật, về sau David đã phục vụ nhiều công việc truyền giáo cho Giáo Hội Tái Tổ Chức, một số công việc này đưa ông đến Utah, nơi ông gặp gỡ họ hàng và Các Thánh Hữu Ngày Sau khác. Lo ngại về những lời bàn tán về việc cha mình đã thực hành tục đa hôn, David đã tranh luận với người anh họ của mình là Joseph F. Smith và phỏng vấn những phụ nữ tự nhận là đã được làm lễ gắn bó với Joseph Smith. Những công việc truyền giáo này khởi đầu việc thu thập các nguồn tài liệu quan trọng về tục đa hôn ở Nauvoo.

bức ảnh chân dung của David Hyrum Smith

Ảnh David Hyrum Smith.

Do Nhã Ý của Bộ Phận Lưu Trữ của Giáo Hội Community of Christ

Chẳng bao lâu sau khi trở về từ công việc truyền giáo ở Utah, sức khỏe tâm thần của David suy yếu, và anh trai của ông là Joseph III đã đưa ông vào một bệnh viện tâm thần ở Elgin, Illinois, vào năm 1877. Joseph III đã viết cho người bạn thân của David: "Sau một thời gian dài suy ngẫm, cầu nguyện và đau buồn, tôi đã đưa David đến Bệnh Viện ở Elgin để điều trị. … Tôi rất buồn về chuyện này, nhưng tôi đã hành động theo cách tốt nhất có thể." Nhân viên tại bệnh viện tâm thần ở Elgin ghi nhận sự trầm cảm, tính cách khép kín, nhạy cảm với tiếng ồn, mất trí nhớ định kỳ và niềm tin rằng người khác có sức mạnh bí ẩn chi phối anh ta. Ông có thể đã mắc phải căn bệnh mà ngày nay gọi là bệnh hưng cảm và sa sút trí tuệ. Bạn bè và gia đình hy vọng sức khỏe của David sẽ được cải thiện, nhưng các nhân viên trong bệnh viện cho biết rằng các triệu chứng của ông vẫn không thay đổi đáng kể trong suốt 27 năm ông sống ở đó. David bị bệnh tiểu đường trong những tháng cuối đời, và ba tháng trước sinh nhật lần thứ 60 của mình, ông qua đời vì suy thận.

Các Đề Tài Liên Quan: Joseph Smith Jr., Emma Hale Smith

Ghi Chú

  1. Mặc dù David đã trải qua 27 năm cuối đời trong bệnh viện tâm thần dưới sự theo dõi toàn thời gian, các nhân viên đã không thông báo cho thân nhân của ông về tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi của ông trong những tháng trước khi ông qua đời, khiến tin tức về cái chết của ông trở nên bất ngờ và đột ngột.

  2. Joseph Smith, "Letter to Emma Smith, 4 April 1839," 2, josephsmithpapers.org, chính tả đã được tiêu chuẩn hóa; Joseph Smith, "Letter to Emma Smith, 21 March 1839," josephsmithpapers.org.

  3. Xét nghiệm di truyền đã bác bỏ những tuyên bố về yếu tố di truyền do một số người có liên quan đến sự đa thê của Joseph đưa ra. Xin xem Ugo A. Perego, Natalie M. Myres, và Scott R. Woodward, "Reconstructing the Y-Chromosome of Joseph Smith: Genealogical Applications," Journal of Mormon History, tập 31, số 3 (năm 2005), trang 42–60; Ugo A. Perego, "Was Joseph Smith the Biological Father of Josephine Lyon? The Genetic Evidence," phần trình bày, Mormon History Association, Snowbird, Utah, 2016; Brian C. Hales và Laura Harris Hales, "Allegations of Joseph’s Paternity," josephsmithspolygamy.org.

  4. "Plural Marriages in Kirtland and Nauvoo," Gospel Topics, topics.lds.org; Roger D. Launius, Joseph Smith III: Pragmatic Prophet (Urbana: University of Illinois Press, năm 1988), trang 250.

  5. George Anderson, "Gravestone of Joseph and Emma Smith’s Son," ảnh, năm 1907, history.lds.org; Joseph Smith, "History, 1834–1836," 9, josephsmithpapers.org; Lucy Mack Smith , "Lucy Mack Smith, History, 1844–1845," quyển 7, trang 1, josephsmithpapers.org; Joseph Smith III, "Last Testimony of Sister Emma," Saints’ Herald, quyển 26, số 19 (ngày 1 tháng Mười năm 1879), trang 89.

  6. “Joseph Murdock Smith,” josephsmithpapers.org; “Julia M. Smith Middleton,” josephsmithpapers.org; Joseph Smith III, “Last Testimony of Sister Emma,” trang 289.

  7. Một chủng virút sởi nguy hiểm có thể là nguyên nhân dẫn đến cái chết của đứa bé. “Joseph Murdock Smith,” josephsmithpapers.org; xin xem thêm Mark Lyman Staker, Hearken, O Ye People: The Historical Setting for Joseph Smith’s Ohio Revelations (Salt Lake City: Greg Kofford Books, năm 2009), trang 354.

  8. Năm 1859, lúc gần cuối đời, John Murdock đã giải thích cho Julia trong một bức thư gửi cho Julia lý do ông đã không nói với cô rằng ông là cha của cô khi cô còn nhỏ: "Chị Smith yêu cầu tôi không cho các con biết mình là cha ruột của chúng: Đó là một yêu cầu khó khăn và tôi đã nói rất ít về vấn đề này. Cô ấy muốn nuôi dạy những đứa trẻ như con ruột của mình và không bao giờ để chúng biết bất cứ điều gì khác." (S. Reed Murdock, Joseph and Emma’s Julia: The "Other" Twin [Salt Lake City: Eborn Books, năm 2004], trang 120). Xin xem thêm Sunny Jane McClellan, "’Gone But Not Forgotten’: The Life of Julia Murdock Smith" (luận văn thạc sĩ, Brigham Young University, năm 1995).

  9. Ngày 30 tháng Mươi Hai năm 1842, trong Joseph Smith, Journal, December 1842–June 1844; Quyển 1, 21 December 1842–10 March 1843, 15, josephsmithpapers.org.

  10. Alexander L. Baugh, "Was Joseph F. Smith Was Blessinged by His Father Hyrum Smith in Liberty Jail?" Mormon Historical Studies, tập 4, số 1 (Mùa Xuân năm 2003), trang 104, 105 (cước chú 7); In the Circuit Court of the United States, Western District of Missouri, Western Division, at Kansas City: Complainant’s Abstract of Pleading and Evidence (Lamoni, Iowa: Herald Publishing House, năm 1893), trang 40–41, 79. Đừng nhầm lẫn các phước lành này với phước lành giả mạo ngày 17 tháng Một năm 1844 của Joseph Smith cho Joseph Smith III, một tài liệu do Mark Hofmann tạo ra vào năm 1981 và được chứng minh là không xác thực. Trước khi biết đó là một sự giả mạo, Chủ Tịch Gordon B. Hinckley đã giải thích rằng phước lành này mang giá trị như một phước lành của người cha, chứ không phải là một hồ sơ sắc phong.

    Khi mô tả các phước lành của cha mình, Joseph III đã phân biệt giữa việc cha ông phong nhiệm ông và việc sắc phong cho ông. Joseph III không tin rằng cha ông đã từng sắc phong ông làm Chủ Tịch của Giáo Hội. Tuy nhiên, ông tin rằng các phước lành đã kêu gọi ông vào vị trí lãnh đạo và rằng một đại hội sau đó đã mang lại sự sắc phong chính thức cho ông chức phẩm chức tư tế (xin xem Circuit Court of the United States, trang 40–41, 79; Gordon B. Hinckley, "The Joseph Smith III Document and the Keys of the Kingdom," Ensign, tháng Năm năm 1981, 20–22; Richard E. Turley Jr., Victims: The LDS Church and the Mark Hofmann Case (Urbana: University of Illinois Press, năm 1992), trang 40–57; Dallin H. Oaks, "Recent Events Involving Church History and Forged Documents," Ensign, tháng Mười năm 1987, trang 63–69.

  11. Launius, Joseph Smith III, trang 101–112.

  12. Launius, Joseph Smith III, trang 218–272.

  13. Launius, Joseph Smith III, trang 346–350.

  14. "Joseph Smith III," josephsmithpapers.org.

  15. "Frederick Granger Williams Smith," josephsmithpapers.org.

  16. Ronald E. Romig, "Alexander H. Smith: Remembering a Son of Joseph and Emma Smith," Journal of Mormon History, tập 37, số 2 (Mùa Xuân năm 2011), trang 3–14.

  17. Romig, "Alexander H. Smith," trang 11.

  18. Romig, "Alexander H. Smith," 16–57; "Alexander Hale Smith," josephsmithpapers.org.

  19. Alexander H. Smith, "Second Coming of Christ: The Home of the Redeemed" (sermon, Bottineau, North Dakota, ngày 1 tháng Bảy năm 1903), Zion’s Ensign, tập 14 (ngày 31 tháng Mười Hai năm 1903), trích trong Romig, "Alexander H. Smith," trang 31.

  20. Hai người họ hàng viết trong vòng vài tuần sau khi sinh đã đề cập đến đứa con trai sơ sinh của Emma và việc chôn cất nó: người trông coi nhà thờ ở Nauvoo, là người đã lưu giữ hồ sơ nghĩa trang có ghi lại việc chôn cất đứa trẻ, và một cuốn Kinh Thánh gia đình liệt kê đứa trẻ và ngày mất của đứa trẻ. Một người bạn của gia đình cũng nhớ lại nhiều năm về sau cách Emma chăm sóc đứa con sơ sinh của người hàng xóm trong suốt năm 1842 một phần để giảm bớt nỗi đau buồn vì mất đứa con này (xin xem lá thư của Almira Mack Covey gửi cho Harriet Mack Whittemore, ngày 24 tháng Hai năm 1842, Thư Riêng của Harriet Mack Whittemore, Church History Library, Salt Lake City; Thư của Jacob Scott gửi cho Mary Scott Warnock, ngày 24 tháng Ba năm 1832, Thư của Jacob Scott gửi cho Mary Warnock, Church History Library, Salt Lake City; Fred E. Woods, "The Cemetery Record of William D. Huntington, Nauvoo Sexton," Mormon Historical Studies, tập 3, số 1 (Mùa Xuân năm 2002), 131–163; Margarette McIntire Burgess, được trích dẫn trong "Recollections of the Prophet Joseph Smith," Juvenile Instructor, quyển 27, số 2 (ngày 15 tháng Một năm 1892), trang 67.

  21. "David Hyrum Smith," josephsmithpapers.org.

  22. Thư của Joseph Smith III gửi Charles J. Jensen, ngày 22 tháng Một năm 1877, được trích dẫn trong Valeen Tippetts Avery, From Mission to Madness: Last Son of the Mormon Prophet (Urbana: University of Illinois Press, năm 1998), trang 245.