Đại Hội Trung Ương
Sự Chuẩn Bị của Cá Nhân để Gặp Đấng Cứu Rỗi
Đại hội trung ương tháng Tư năm 2025


14:10

Sự Chuẩn Bị của Cá Nhân để Gặp Đấng Cứu Rỗi

Hãy tuân theo những lời dạy của Đấng Cứu Rỗi. Những chỉ dẫn của Ngài không khó hiểu, cũng không phức tạp. Khi tuân theo những chỉ dẫn đó, chúng ta không cần phải sợ hãi hay lo lắng.

Thưa anh chị em, tháng Mười năm ngoái, Chủ Tịch Russell M. Nelson đã dạy: “Giờ đây là lúc để anh chị em và tôi chuẩn bị cho Ngày Tái Lâm của Chúa và Đấng Cứu Rỗi của chúng ta, Chúa Giê Su Ky Tô.” Khi Chủ Tịch Nelson nói về Ngày Tái Lâm, thì luôn luôn là với sự lạc quan vui vẻ. Tuy nhiên, gần đây, một bé gái trong Hội Thiếu Nhi đã nói với tôi rằng em trở nên lo lắng mỗi khi Ngày Tái Lâm được đề cập đến. Em ấy nói: “Em sợ vì những điều tồi tệ sẽ xảy ra trước khi Chúa Giê Su tái lâm.”

Không phải chỉ trẻ em mới cảm thấy như vậy. Lời khuyên tốt nhất dành cho bé gái ấy, cho anh chị em và cho tôi là hãy tuân theo những lời dạy của Đấng Cứu Rỗi. Những chỉ dẫn của Ngài không khó hiểu, cũng không phức tạp. Khi tuân theo những chỉ dẫn đó, chúng ta không cần phải sợ hãi hay lo lắng.

Gần cuối giáo vụ trần thế của Ngài, Chúa Giê Su Ky Tô đã được hỏi khi nào thì Ngài sẽ tái lâm. Để trả lời, Ngài đã dạy ba câu chuyện ngụ ngôn, được ghi lại trong Ma Thi Ơ 25, về cách chuẩn bị để gặp Ngài—cho dù khi Ngài tái lâm hoặc bất cứ khi nào chúng ta rời khỏi thế gian này. Những lời dạy này là thiết yếu vì sự chuẩn bị của cá nhân để gặp Ngài là mục đích chính của cuộc sống.

Trước hết, Đấng Cứu Rỗi kể lại câu chuyện ngụ ngôn về mười trinh nữ. Trong câu chuyện ngụ ngôn này, mười trinh nữ đi dự tiệc cưới. Năm người khôn mang theo dầu để đổ đầy đèn của họ và năm người dại thì không làm thế. Khi chú rể được loan báo là sắp đến thì những người trinh nữ dại bỏ đi mua dầu. Khi họ trở về, thì đã quá muộn; cửa phòng tiệc đã đóng lại.

Chúa Giê Su đã xác định ba khía cạnh của câu chuyện ngụ ngôn này để giúp đỡ chúng ta. Ngài đã giải thích:

“Và vào ngày đó, khi ta đến ngự trong vinh quang, thì chuyện ngụ ngôn mà ta nói về mười trinh nữ sẽ được ứng nghiệm.

“Vì những ai khôn ngoan và đã nhận được lẽ thật, và đã chọn Đức Thánh Linh làm Đấng hướng dẫn của mình, và không bị lừa gạt—thật vậy, ta nói cho các ngươi hay, những người ấy sẽ … đương nổi ngày ấy.”

Nói cách khác, họ không cần phải sợ hãi hay lo lắng, bởi vì họ sẽ sống sót và thịnh vượng. Họ sẽ chiến thắng.

Nếu khôn ngoan, chúng ta sẽ nhận được lẽ thật bằng cách chấp nhận phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô qua các giáo lễ của chức tư tế và các giao ước. Tiếp theo, chúng ta cố gắng để luôn xứng đáng có được Đức Thánh Linh ở cùng chúng ta. Để đạt được khả năng này, chúng ta phải có những nỗ lực riêng cá nhân, từng chút một. Những hành động kiên định, cá nhân, riêng tư của lòng tận tụy sẽ mời Đức Thánh Linh đến để hướng dẫn chúng ta.

Yếu tố thứ ba mà Chúa Giê Su đã nhấn mạnh là tránh bị lừa dối. Đấng Cứu Rỗi đã cảnh cáo:

“Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi.

“Vì nhiều người sẽ mạo danh ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Ky Tô; và sẽ dỗ dành nhiều người.”

Đấng Cứu Rỗi biết những kẻ giả mạo sẽ cố gắng dối gạt chính những người được chọn và nhiều môn đồ sẽ bị lừa bịp. Chúng ta không nên tin vào những kẻ mạo nhận là đã được sự chấp thuận của Thượng Đế hoặc tìm kiếm sự khôn ngoan hay sự hướng dẫn từ các nguồn không đáng tin cậy hay giả mạo.

Sách Mặc Môn dạy chúng ta cách phân biệt những kẻ lừa gạt với các môn đồ. Các môn đồ luôn khuyến khích việc tin vào Thượng Đế, phục vụ Ngài và làm điều tốt. Chúng ta sẽ không bị lừa gạt khi tìm kiếm và nghe theo lời khuyên từ những cá nhân đáng tin cậy, tức là những người tự họ cũng là môn đồ trung tín của Đấng Cứu Rỗi.

Chúng ta cũng có thể tránh bị lừa gạt bằng cách thờ phượng thường xuyên trong đền thờ. Điều này giúp chúng ta duy trì một quan điểm vĩnh cửu và bảo vệ chúng ta khỏi những ảnh hưởng mà có thể làm cho chúng ta xao lãng hoặc chệch hướng khỏi con đường giao ước.

Bài học thiết yếu của câu chuyện ngụ ngôn này về mười trinh nữ là chúng ta phải khôn ngoan khi chấp nhận phúc âm, tìm cách có được Đức Thánh Linh ở cùng chúng ta và tránh bị lừa gạt. Năm người trinh nữ khôn không thể giúp những người không có dầu; không ai có thể chấp nhận phúc âm, tiếp nhận Đức Thánh Linh làm Đấng hướng dẫn và tránh bị lừa gạt thay cho chúng ta. Chúng ta phải làm điều này cho chính mình.

Sau đó, Đấng Cứu Rỗi kể lại câu chuyện ngụ ngôn về các ta lâng. Trong câu chuyện ngụ ngôn này, một người đàn ông đã đưa những số tiền khác nhau, được gọi là các ta lâng, cho ba tôi tớ. Người ấy đưa cho một tôi tớ năm ta lâng, một tôi tớ kia hai ta lâng, và người tôi tớ thứ ba một ta lâng. Theo thời gian, hai người tôi tớ đầu tiên đã nhân đôi số ta lâng họ đã nhận được. Nhưng người tôi tớ thứ ba thì lại chôn giấu đồng ta lâng duy nhất của mình. Người đàn ông nói với cả hai người tôi tớ mà đã nhân đôi số ta lâng của họ: “Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi.”

Sau đó, người đàn ông khiển trách người tôi tớ đã chôn giấu ta lâng của mình là “dữ và biếng nhác.” Ta lâng của người tôi tớ này bị lấy lại và người ấy bị đuổi đi. Tuy nhiên, nếu người tôi tớ này nhân đôi số ta lâng của mình, thì người ấy chắc hẳn đã nhận được cùng lời khen ngợi và phần thưởng như hai người tôi tớ kia.

Sứ điệp của câu chuyện ngụ ngôn này là Thượng Đế kỳ vọng chúng ta sẽ phát triển thêm những khả năng mà chúng ta đã được ban cho, nhưng Ngài không muốn chúng ta so sánh khả năng của mình với khả năng của người khác. Hãy xem xét sự hiểu biết thấu đáo này của học giả Zusya xứ Anipol thuộc phong trào Hasidim thuộc Do Thái Giáo vào thế kỷ 18. Zusya là một giáo sĩ nổi tiếng và bắt đầu sợ hãi khi ông cận kề cái chết. Các đệ tử của ông đã hỏi: “Thưa thầy, tại sao thầy run sợ? Thầy đã sống một cuộc sống tốt đẹp; chắc chắn là Thượng Đế sẽ ban cho thầy một phần thưởng lớn.”

Zusya nói: “Nếu Thượng Đế phán cùng thầy: ‘Zusya, tại sao ngươi không như Môi Se?’ Thầy sẽ nói: ‘Vì Ngài đã không ban cho con một tâm hồn vĩ đại như Ngài đã ban cho Môi Se.’ Và nếu thầy đứng trước Thượng Đế và Ngài phán: ‘Zusya, tại sao ngươi không như Sa Lô Môn?’ Thầy sẽ nói: ‘Vì Ngài đã không ban cho con sự khôn ngoan của Sa Lô Môn.’ Nhưng, than ôi, thầy sẽ nói gì nếu đứng trước Đấng Tạo Hóa của thầy và Ngài phán: ‘Zusya, tại sao ngươi không là Zusya? Tại sao ngươi không là người mà Ta đã ban cho khả năng để trở thành?’ Ôi, đó là lý do tại sao thầy run sợ.”

Thật vậy, Thượng Đế sẽ thất vọng nếu chúng ta không dựa vào công lao, lòng thương xót và ân điển của Đấng Cứu Rỗi để phát triển thêm những khả năng mà Thượng Đế đã ban cho chúng ta. Với sự trợ giúp đầy yêu thương, Ngài kỳ vọng chúng ta sẽ trở thành con người tốt nhất mà mình có thể trở thành. Ngài không xem việc chúng ta bắt đầu với những khả năng khác biệt nhau là quan trọng. Và chúng ta cũng nên như vậy.

Cuối cùng, Đấng Cứu Rỗi kể lại chuyện ngụ ngôn về chiên và dê. Khi Ngài trở lại trong vinh quang của Ngài, “muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả.”

Những người ở bên hữu Ngài trở thành người kế tự vương quốc của Ngài, và những người ở bên tả Ngài không nhận được phần thừa hưởng nào. Điểm phân biệt họ là liệu họ có cho Ngài ăn khi Ngài đói, cho Ngài uống khi Ngài khát, cho Ngài chỗ ở khi Ngài là khách lạ, cho Ngài quần áo khi Ngài thiếu mặc và thăm viếng Ngài khi Ngài đau ốm hoặc bị giam cầm hay không.

Mọi người đều lúng túng, cả những người ở bên hữu lẫn những người ở bên tả. Họ hỏi khi nào họ đã, hoặc khi nào họ chưa, cho Ngài thức ăn, thức uống và quần áo hoặc giúp đỡ Ngài khi Ngài dễ bị tổn thương. Để đáp lại, Đấng Cứu Rỗi phán: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.”

Sứ điệp của câu chuyện ngụ ngôn này rất rõ ràng: khi phục vụ người khác là chúng ta phục vụ Thượng Đế; khi không làm như vậy, thì chúng ta làm Ngài thất vọng. Ngài kỳ vọng chúng ta sẽ sử dụng các ân tứ, tài năng và khả năng của mình để ban phước cho cuộc sống của con cái của Cha Thiên Thượng. Động lực thiêng liêng để phục vụ người khác được minh họa trong một bài thơ được thi sĩ người Phần Lan Johan Ludvig Runeberg viết vào thế kỷ 19. Tôi cùng các anh chị em của mình đã nhiều lần nghe bài thơ “Bác Nông Phu Paavo” trong suốt thời thơ ấu của chúng tôi. Trong bài thơ này, Paavo là một người nông phu nghèo sống cùng vợ con ở vùng hồ của miền trung Phần Lan. Trong nhiều năm liên tiếp, phần lớn mùa màng của ông đều bị phá hủy, cho dù là do đất bị úng nước bởi tuyết tan vào mùa xuân, do mưa đá mùa hè hay sương giá đầu thu. Mỗi lần thu hoạch ít ỏi, vợ của người nông phu than thở: “Paavo, Paavo, ông là ông già bất hạnh, Thượng Đế đã bỏ rơi chúng ta.” Đổi lại, Paavo điềm tĩnh nói: “Hãy trộn vỏ cây với bột lúa mạch đen mà làm bánh mì để mấy đứa con không bị đói. Tôi sẽ làm việc siêng năng hơn để tháo nước ra khỏi những cánh đồng lầy lội. Thượng Đế đang thử thách chúng ta, nhưng Ngài sẽ lo liệu cho.”

Mỗi lần mùa màng bị phá hủy, Paavo đều bảo vợ phải tăng gấp đôi số lượng vỏ cây mà bà trộn vào bột để không bị đói. Ông cũng làm việc siêng năng hơn, đào rãnh để tháo nước cho đất và giảm khả năng những cánh đồng của mình bị ngập nước vào mùa xuân và sương giá đầu thu.

Sau nhiều năm gian khổ, cuối cùng Paavo cũng có được một vụ mùa bội thu. Vợ ông hớn hở nói: “Paavo, Paavo, đây là thời điểm hạnh phúc! Đã đến lúc vứt bỏ vỏ cây và nướng bánh mì chỉ làm từ lúa mạch đen.” Nhưng Paavo nghiêm nghị nắm tay vợ và nói: “Hãy trộn một nửa bột với vỏ cây, vì những cánh đồng của người hàng xóm chúng ta đã bị đóng băng.” Paavo đã hy sinh số thu nhập dồi dào của mình và gia đình để giúp đỡ người hàng xóm khốn khổ và nghèo túng của mình.

Bài học trong câu chuyện ngụ ngôn của Đấng Cứu Rỗi về chiên và dê là chúng ta phải sử dụng những ân tứ mình đã được ban cho—tức là thời gian, tài năng và phước lành—để phục vụ con cái của Cha Thiên Thượng, nhất là những người yếu đuối và thiếu thốn nhất.

Lời mời của tôi dành cho đứa trẻ đang lo lắng trong Hội Thiếu Nhi mà tôi đã đề cập trước đây, và cho mỗi anh chị em, là hãy noi theo Chúa Giê Su Ky Tô và tin cậy Đức Thánh Linh giống như anh chị em tin cậy một người bạn thân thiết. Hãy trông cậy vào những người yêu thương anh chị em và những người yêu mến Đấng Cứu Rỗi. Hãy tìm kiếm sự hướng dẫn của Thượng Đế để phát triển các khả năng độc đáo của mình và giúp đỡ người khác, ngay cả khi điều đó là không dễ dàng. Anh chị em sẽ sẵn sàng để gặp Đấng Cứu Rỗi và anh chị em có thể cùng với Chủ Tịch Nelson trở nên lạc quan vui vẻ. Khi làm như vậy, anh chị em giúp chuẩn bị thế gian cho Ngày Tái Lâm của Chúa Giê Su Ky Tô, và anh chị em sẽ được ban phước để có đủ hy vọng hầu bước vào chốn an nghỉ và niềm vui của Chúa, bây giờ và trong tương lai.

Như khi chúng ta hát một trong số các bài thánh ca mới của mình:

Hãy hân hoan! Và chuẩn bị cho ngày đó! …

Không ai biết được ngày giờ Ngài sẽ tái lâm,

Nhưng Ngài sẽ trở lại như thánh thư đã nói; đó sẽ là một ngày vui mừng

Khi Đấng Cứu Rỗi yêu quý của chúng ta tái lâm.

Trong tôn danh của Chúa Giê Su Ky Tô, A Men.

Ghi Chú

  1. Russell M. Nelson, “Chúa Giê Su Ky Tô Sẽ Tái Lâm,” Liahona, tháng Mười Một năm 2024, trang 121.

  2. Chúng ta không cần phải cảm thấy lo lắng, vì Chúa Giê Su Ky Tô sẽ biến đổi chúng ta để chúng ta sẵn sàng gặp Ngài. Khi chúng ta luôn tôn trọng các giao ước của mình và tuân giữ các lệnh truyền thì dần dần chúng ta càng trở nên giống Đấng Cứu Rỗi hơn, qua ân điển và các phước lành của Ngài. Và khi làm như vậy, chúng ta sẽ sẵn sàng cho Ngày Tái Lâm của Ngài. Như được nói rõ trong 1 Giăng 3:2–3:

    “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy.

    “Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch.”

  3. Ngày Tái Lâm của Chúa sẽ diễn ra vào đầu kỷ nguyên kéo dài ngàn năm, khi Ngài tái lâm trong vinh quang, và tất cả mọi người sẽ thừa nhận rằng Ngài đã và đang là Đấng Mê Si được hứa (xin xem Ê Sai 45:23; Xa Cha Ri 12:10; Giáo Lý và Giao Ước 88:104).

  4. Xin xem Russell M. Nelson, “Sứ Điệp Khai Mạc,” Liahona, tháng Năm năm 2020, trang 6.

  5. Xin xem Bản Dịch Joseph Smith, Ma Thi Ơ 25:1 (trong Ma Thi Ơ 25:1, cước chú a); Ma Thi Ơ 25:1–4, 6–13.

  6. Giáo Lý và Giao Ước 45:56–57.

  7. Xin xem David A. Bednar, “Được Cải Đạo theo Chúa,” Liahona, tháng Mười Một năm 2012, trang 109.

  8. Xin xem 2 Nê Phi 32:5.

  9. Ma Thi Ơ 24:4–5.

  10. Xin xem Joseph Smith—Ma Thi Ơ 1:5–6, 8–9, 21–22, 25–26.

  11. Xin xem Mô Rô Ni 7:13, 15–17. Những lời giảng dạy trong Sách Mặc Môn kết hợp và làm sáng tỏ những lời giảng dạy trong Kinh Thánh “để khuynh đảo các giáo lý sai lạc” (2 Nê Phi 3:12). Có lẽ đây là một phần lý lẽ về lời giảng dạy của Chủ Tịch Russell M. Nelson rằng Sách Mặc Môn là công cụ của Thượng Đế để chuẩn bị thế gian cho Ngày Tái Lâm (xin xem “The Book of Mormon, the Gathering of Israel, and the Second Coming,” Liahona, tháng Bảy năm 2014, trang 27).

  12. Xin xem Russell M. Nelson, “Hãy Nghĩ Tới Những Điều Vĩnh Cửu của Thượng Thiên!,” Liahona, tháng Mười Một năm 2023, trang 119. Chủ Tịch Nelson cũng đã dạy: “Đừng làm suy yếu [chứng ngôn của anh chị em] bằng những triết lý sai lầm của những người nam và người nữ không tin” (“Thắng Thế Gian và Tìm Sự Yên Nghỉ,” Liahona, tháng Mười Một năm 2022, trang 97). “Hãy mang những thắc mắc của anh chị em đến Chúa và các nguồn trung tín khác. … Hãy ngừng gia tăng những nỗi nghi ngờ của anh chị em khi thảo luận chúng với những người nghi ngờ khác”( “Đấng Ky Tô Đã Sống Lại; Đức Tin nơi Ngài Sẽ Dời Được Núi,” Liahona, tháng Năm năm 2021, trang 103). Như tiên tri An Ma Cha trong Sách Mặc Môn đã khuyên bảo: “Đừng tin cậy vào một người nào để làm thầy giảng hay làm giáo sĩ của mình, trừ phi người đó là người của Thượng Đế, biết đi theo đường lối của Ngài và tuân giữ các lệnh truyền của Ngài” (Mô Si A 23:14). Trong gian kỳ này, Đấng Cứu Rỗi đã dạy chúng ta là chỉ trông cậy vào những kẻ nào “có tâm hồn thống hối, … cùng ngôn ngữ nhu mì và gây dựng, … [những kẻ] run sợ dưới quyền năng của ta … và … sinh trái của sự ngợi khen và khôn ngoan, theo những điều mặc khải và các lẽ thật mà ta đã ban cho các ngươi” (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 52:14–19).

  13. Xin xem Russell M. Nelson, “Chúa Giê Su Ky Tô Sẽ Tái Lâm,” trang 121.

  14. Khi các giáo lễ làm thay được thực hiện thay cho tổ tiên đã qua đời, thì những tổ tiên đó tự quyết định xem họ có chấp nhận phúc âm và luôn trung tín hay không. Ngay cả trong những hoàn cảnh đó, cũng không một ai đưa ra quyết định thay cho người khác.

  15. Xin xem Ma Thi Ơ 25:14–30.

  16. Xin xem Sách Hướng Dẫn Thánh Thư, “Ta Lâng.” Ta lâng là một đơn vị cổ xưa dùng để đo trọng lượng và giá trị tiền tệ vào thời Hy Lạp và La Mã. Người ta ước tính rằng một ta lâng có giá trị khoảng 6.000 đồng bạc denarius, và vì một đồng bạc denarius tương đương với tiền công một ngày của một người lao động, nên một ta lâng sẽ tương đương với khoảng 20 năm tiền công của một người làm việc trung bình.

  17. Ma Thi Ơ 25:21; xin xem thêm câu 23.

  18. Xin xem Ma Thi Ơ 25:24–26.

  19. Nếu khai triển thêm câu chuyện ngụ ngôn, trong kế hoạch vĩnh cửu của những sự việc, một khi mỗi người tôi tớ làm vui lòng người chủ của mình và trở thành người thừa kế tất cả những gì người chủ có, thì những khác biệt nhỏ thấy rõ trong những gì mỗi người tôi tớ đã có từ lúc đầu trở nên không đáng kể.

  20. Ngoài ra, Chúa ví các ta lâng được đề cập trong câu chuyện ngụ ngôn này với nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống và phúc âm, kể cả sự hiểu biết và chứng ngôn (xin xem Ê The 12:35; Giáo Lý và Giao Ước 60:2, 13) cũng như tài sản và vai trò quản lý (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 82:18).

  21. Xin xem Harold S. Kushner, Overcoming Life’s Disappointments (năm 2006), trang 26.

  22. Như đã được nói rõ trong Thuyết Giảng Phúc Âm của Ta: Sách Hướng Dẫn Cách Chia Sẻ Phúc Âm của Chúa Giê Su Ky Tô (năm 2023), trang 48, “Tất cả những gì bất công trong cuộc sống đều có thể được làm cho trở nên đúng nhờ vào Sự Chuộc Tội của Chúa Giê Su Ky Tô.”

  23. Xin xem Ma Thi Ơ 25:31–46.

  24. Ma Thi Ơ 25:32–33.

  25. Xin xem Ma Thi Ơ 25:37–39, 44.

  26. Ma Thi Ơ 25:40; xin xem thêm câu 45.

  27. Xin xem Mô Si A 2:17. Chúng ta tham gia vào sứ mệnh của Đấng Cứu Rỗi khi chúng ta chia sẻ phúc âm của Ngài, giúp chữa lành những người bị đau khổ (xin xem Ê Sai 61:1–3; Lu Ca 4:16–21), cứu giúp kẻ yếu, nâng đỡ những bàn tay rũ rượi và làm vững mạnh những đầu gối suy nhược (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 81:5).

  28. Lớp bên trong của vỏ cây bạch dương chứa một số chất đường bột và chất xơ. Người ta có thể ăn nó như là một phương cách cuối cùng.

  29. Xin xem Johan Ludvig Runeberg, “Högt Bland Saarijärvis Moar,” Idyll och epigram Dikter (năm 1830), nummer 25; Suomen kansalliskirjallisuus (Helsinki, năm 1941), 9:50–52; sv.wikisource.org/wiki/Högt_bland_Saarijärvis_moar. Bản dịch từ tiếng Thụy Điển là của tôi.

  30. Điều này tượng trưng cho những gì mà Thượng Đế đã chỉ thị cho dân Y Sơ Ra Ên thời xưa phải làm: “Vì sẽ có kẻ nghèo trong xứ luôn luôn, nên ta mới dặn biểu ngươi mà rằng: Khá sè tay mình ra cho anh em bị âu lo và nghèo khó ở trong xứ ngươi.” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 15:11).

  31. Xin xem Dallin H. Oaks, “Preparation for the Second Coming,” Liahona, tháng Năm năm 2004, trang 7–10, để đọc bài diễn thuyết tuyệt vời về Ngày Tái Lâm và những cách chuẩn bị cho ngày đó.

  32. Xin xem Russell M. Nelson, “Thắng Thế Gian và Tìm Sự Yên Nghỉ,” trang 95–98. Chủ Tịch Nelson đã dạy: “Một yếu tố quyết định của sự quy tụ này là chuẩn bị một dân tộc có khả năng, sẵn sàng và xứng đáng để đón nhận Chúa khi Ngài tái lâm, một dân tộc đã chọn Chúa Giê Su Ky Tô hơn là thế gian sa ngã này, một dân tộc vui mừng trong quyền tự quyết của họ để sống theo các luật pháp cao hơn, thiêng liêng hơn của Chúa Giê Su Ky Tô” (“Thắng Thế Gian và Tìm Sự Yên Nghỉ,” trang 98).

  33. Xin xem Mô Rô Ni 7:3. Chủ Tịch Joseph F. Smith đã dạy: “Sự yên nghỉ được đề cập đến không phải là sự yên nghỉ của thể xác. … [Đó là] sự yên nghỉ và bình an của phần thuộc linh phát sinh từ sự tin chắc vững vàng về lẽ thật. … Như vậy, chúng ta có thể bước vào chốn yên nghỉ của Chúa ngày hôm nay, bằng cách hiểu được các lẽ thật của phúc âm. … [Những người nào đã bước vào chốn an nghỉ này là những người] có tâm trí mãn nguyện, và là những người đã tập trung vào sự kêu gọi cao cả của họ với một quyết tâm không thể lay chuyển trong lòng họ để kiên định trong lẽ thật, và là những người đang bước đi trong sự khiêm nhường và ngay chính trên con đường được vạch ra cho … những tín đồ của Chúa Giê Su Ky Tô. Nhưng có nhiều người vì chưa đạt đến điểm tin chắc đã được xác định này nên bị dời đổi theo chiều gió của đạo lạc, do đó trở nên khó chịu, lo lắng, bồn chồn. Đây là những người nản lòng về những sự việc xảy ra trong Giáo Hội, trong quốc gia và trong cảnh hỗn loạn của con người. … Họ nuôi dưỡng một cảm giác nghi ngờ, bất an, không chắc chắn. Những ý nghĩ của họ bị xáo trộn, và họ trở nên kích động trước sự thay đổi nhỏ nhất, giống như một người trên biển đã bị mất phương hướng” (Gospel Doctrine, ấn bản lần thứ 5 [năm 1939], trang 126).

  34. “When the Savior Comes Again,” Hymns—For Home and Church, Thư Viện Phúc Âm.